Tiềm năng của việc nuôi chó đối với chứng sa sút nhận thức và hiệu quả chi phí

28.09.2026 10:02 chiều

Dưới đây là tóm lược nghiên cứu đánh giá tiềm năng của việc nuôi chó đối với nguy cơ mắc bệnh sa sút nhận thức gây tàn tật (disabling dementia), tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và hiệu quả kinh tế y tế liên quan ở người cao tuổi sống tại cộng đồng ở Nhật Bản. Bài viết được đăng trên tạp chí Environmental Research and Public Health

1. Mục tiêu nghiên cứu

• Nghiên cứu này đánh giá mối liên hệ giữa việc nuôi chó với nguy cơ khởi phát chứng sa sút nhận thức gây tàn tật và tỷ lệ tử vong ở người cao tuổi.
• Nghiên cứu cũng thực hiện phân tích tính hiệu quả về chi phí (cost-effectiveness) của việc nuôi chó đối với các khoản chi tiêu cho y tế và chăm sóc dài hạn.

2. Phương pháp nghiên cứu

• Đây là một nghiên cứu tiến cứu với thời gian theo dõi khoảng 7,5 năm, bao gồm 11.224 người cao tuổi (từ 65 đến 84 tuổi) sống tại cộng đồng ở thành phố Ota, Tokyo, Nhật Bản.
• Dựa trên dữ liệu khảo sát, người tham gia được phân loại thành ba nhóm: 1. đang nuôi chó, 2. từng nuôi chó và 3. chưa từng nuôi chó.
• Phân tích thống kê sử dụng phương pháp trọng số điểm xu hướng (propensity score weighting) để cân bằng các đặc điểm thể chất, xã hội, tâm lý, đồng thời áp dụng mô hình biến công cụ (instrumental variable model) với mật độ dân số để kiểm tra mối quan hệ nhân quả tiềm năng.
• Việc phân tích hiệu quả chi phí được thực hiện thông qua mô hình Markov trong khung thời gian 48 tháng, đứng từ góc độ cơ quan chi trả công cộng của Nhật Bản.

3. Kết quả

a. Kết quả về sức khỏe

• Đối với nguy cơ mắc chứng sa sút nhận thức gây tàn tật, nhóm đang nuôi chó có tỷ số chênh (odds ratio – OR) là 0,53 và nhóm từng nuôi chó có OR là 0,97 so với những người chưa từng nuôi chó.

• Về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân, nhóm đang nuôi chó có OR là 0,63 và nhóm từng nuôi chó có OR là 0,88 so với nhóm chưa từng nuôi.
• Phân tích nhân quả bằng mô hình biến công cụ tái xác nhận rằng những người đang nuôi chó (OR = 0,52) và từng nuôi chó (OR = 0,75) có tỷ số chênh mắc chứng sa sút nhận thức thấp hơn so với người chưa từng nuôi.
• Đối với kết cục tử vong trong mô hình biến công cụ, tỷ số chênh có giảm nhưng không đạt mức ý nghĩa thống kê rõ rệt ở cả nhóm đang nuôi (OR = 0,59) và từng nuôi chó (OR = 0,77).

b. Kết quả về hiệu quả chi phí (Kinh tế y tế)

• Từ góc độ cơ quan chi trả công cộng (chỉ tính chi phí y tế và chăm sóc dài hạn do nhà nước tài trợ, loại trừ chi phí nuôi chó cá nhân), việc nuôi chó mang lại hiệu quả vượt trội, giúp tiết kiệm chi phí và làm tăng “số năm sống điều chỉnh theo chất lượng (quality-adjusted life years – QALYs).”
• Trên một nhóm giả định gồm 1.000 người trong vòng 48 tháng, việc nuôi chó giúp giảm 122.717.829 Yên chi phí công và tăng thêm 142,4 QALY.
• Dựa trên tỷ lệ nuôi chó giả định là 13,4%, sự hiện diện của việc nuôi chó có thể giúp tiết kiệm khoảng 592 tỷ Yên cho các chi phí y tế và chăm sóc dài hạn liên quan đến chứng sa sút nhận thức trên quy mô quốc gia trong vòng 4 năm.
• Tuy nhiên, trong một kịch bản phân tích bao gồm cả chi phí cá nhân bỏ ra để nuôi chó, “tỷ số chi phí hiệu quả gia tăng (incremental cost-effectiveness ratio – ICER)” lên tới 6.744.174 Yên/QALY, vượt quá ngưỡng sẵn sàng chi trả thường được áp dụng tại Nhật Bản (khoảng 5.000.000 Yên/QALY).

4. Kết luận

• Việc nuôi chó có tác dụng bảo vệ tiềm năng, giúp ngăn ngừa sự khởi phát của chứng sa sút nhận thức gây tàn tật ở người cao tuổi.
• Về mặt vĩ mô, việc sở hữu chó có tiềm năng lớn trong việc làm giảm gánh nặng chi tiêu công đối với các dịch vụ chăm sóc dài hạn và y tế.

Nguồn tham khảo
Taniguchi, Y., Saito, Y., Seino, S., Hata, T., Mori, H., & Kobayasi, E. (2026). Investigating the Potential Protective Effect of Dog Ownership on Incident Disabling Dementia and Its Cost-Effectiveness. International Journal of Environmental Research and Public Health, 23, 938. DOI: https://doi.org/10.3390/ijerph23070938.

Nguyễn Tiến Sử, MD, PhD, MBA

🎓Tốt nghiệp Bác Sĩ Đa Khoa (MD), tại Đại Học Y Dược TP. HCM, VIETNAM (1995). 🎓Tốt nghiệp Tiến Sĩ Y Khoa (PhD), ngành Y Học Ứng Dụng Gene, tại Tokyo Medical and Dental University, JAPAN (2007). 🎓Tốt nghiệp Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh (MBA), ngành Global Leadership, tại Bond University, AUSTRALIA (2015). 👨🏻‍💼Công tác tại bệnh viện Đa Khoa Tây Ninh (1995 - 1997). 👨🏻‍💼Công tác tại bệnh viện Đa Khoa Bình Dương (1998 - 1999). 👨🏻‍💼Hiện làm việc cho công ty dược phẩm Hoa Kỳ tại Nhật Bản.

Bài viết liên quan

Ung thư Thận tiết niệu bàng quang

Balversa – Thuốc mới điều trị ung thư bàng quang