ADR 2 1024x709 1


Hội chứng ban đỏ lòng bàn tay-chân là gì.

Hội chứng ban đỏ lòng bàn tay-chân (Palmar-plantar erythrodysesthesia) còn được gọi là Hội chứng bàn tay-chân (Hand-foot syndrome), là một tác dụng phụ do một số thuốc điều trị ung thư gây ra. Hội chứng gây đỏ, sưng và đau ở da lòng bàn tay và / hoặc lòng bàn chân.  Đôi khi xuất hiện mụn nước và bong tróc da. Hội chứng đôi khi xảy ra ở những nơi khác trên da, chẳng hạn như đầu gối hoặc khuỷu tay, nhưng ít phổ biến hơn.

palmar plantar erythrodysaesthesia syndrome

Triệu chứng

  • Các triệu chứng nhẹ hoặc trung bình bao gồm: Đỏ da như bị cháy nắng, sưng tấy, cảm giác ngứa ran hoặc nóng rát, xuất hiện mụn nước trên lòng bàn tay và lòng bàn chân
  • Các triệu chứng nghiêm trọng bao gồm: Da nứt nẻ, hoặc bong tróc, mụn nước, hoặc vết loét trên da lòng bàn tay- chân, đau nhiều, khó khăn khi đi lại hoặc sử dụng tay

Nguyên nhân

Một số loại thuốc điều trị ung thư ảnh hưởng đến sự phát triển của các tế bào da hoặc các mạch máu nhỏ ở bàn tay và bàn chân. Khi thuốc ra khỏi mạch máu, nó sẽ làm hỏng các mô xung quanh, và gây ra các triệu chứng từ mẩn đỏ và sưng tấy đến khó đi lại. Không phải tất cả những người dùng đều xuất hiện hội chứng này. Mức độ nghiêm trọng của hội chứng cũng có thể khác nhau đối với từng người. 

  • Các loại hóa trị liệu có thể gây ra hội chứng này bao gồm: Capecitabine (Xeloda), Cytarabine, Docetaxel (Taxotere), Doxorubicin,  Fluorouracil (5-FU), Floxuridine,  Idarubicin (Idamycin), Liposomal doxorubicin (Doxil), Paclitaxel (Taxol), Vemurafenib (Zelboraf)
  • Các liệu pháp nhắm mục tiêu có nhiều khả năng gây ra hội chứng bao gồm: Axitinib (Inlyta), Cabozantinib (Cabometyx, Cometriq), Regorafenib (Stivarga), Sorafenib (Nexavar), Sunitinib (Sutent), Pazopanib (Votrient)

Phòng ngừa

Hội chứng ban đỏ lòng bàn tay-chân thường nặng hơn trong 6 tuần đầu điều trị bằng liệu pháp nhắm mục tiêu, và thường xuất hiện sau 2 đến 3 tháng đối với hóa trị liệu. Các mẹo sau có thể hữu ích:

  • Làm mát bàn tay và bàn chân của bệnh nhân. Mỗi lần chườm đá, vòi nước mát hoặc khăn ướt trong vòng 15 đến 20 phút. Tránh chườm đá trực tiếp lên da.
  • Tránh các nguồn nhiệt, bao gồm phòng xông hơi khô, ngồi dưới ánh nắng mặt trời, hoặc ngồi trước cửa sổ đầy nắng.
  • Tránh các hoạt động gây ra lực hoặc cọ xát vào bàn tay hoặc bàn chân trong 6 tuần đầu điều trị. Điều này bao gồm chạy bộ, thể dục nhịp điệu và các môn thể thao dùng tay.
  • Tránh tiếp xúc với các hóa chất mạnh như bột giặt hoặc các sản phẩm tẩy rửa gia dụng.
  • Tránh sử dụng các công cụ hoặc đồ gia dụng mà phải dùng lực tay.
  • Thoa nhẹ các loại kem dưỡng da để giữ ẩm cho da tay chân.
  • Mang giày và quần áo rộng rãi, thông thoáng. Cố gắng không đi chân trần.  Sử dụng dép mềm và tất dày để giảm ma sát cho chân.

Điều trị 

  • Có thể giảm liều hoặc ngừng tạm thời thuốc điều trị cho đến khi các triệu chứng thuyên giảm.
  • Thuốc chống viêm tại chỗ có thể hữu ích, bao gồm các loại kem corticosteroid như clobetasol hoặc halobetasol.
  • Thuốc giảm đau tại chỗ, chẳng hạn như lidocain (dạng kem hoặc miếng dán lên các vùng bị ảnh hưởng).
  • Các loại kem tẩy tế bào chết dưỡng ẩm tại chỗ. Những loại có chứa urê, axit salicylic hoặc ammonium lactate là hữu ích nhất.
  • Thuốc giảm đau, chẳng hạn như ibuprofen, naproxen và celecoxib (Celebrex).
  • Chườm đá dưới bàn tay và bàn chân khi đang hóa trị liệu để ngăn ngừa hội chứng.

Nguồn tham khảo:

Comments are closed, but trackbacks and pingbacks are open.