RYBREVANT LÀ

Là thuốc dạng dịch tiêm, chứa thành phần amivantamab, là kháng thể định hướng EGFR và MET, do Janssen phát triển và thương mại hóa. Rybrevant được chỉ định điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (Non-small cell lung cancer: NSCLC) có đột biến chèn trên exon 20 gen EGFR, tiến triển tại chỗ hoặc di căn ở bệnh nhân trưởng thành sau hóa trị chứa platinum.

Chỉ định này được FDA phê duyệt cấp tốc vào tháng 5 năm 2021.

Ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới. Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ chiếm 80% đến 85% các loại ung thư phổi, trong đó có khoảng 2% đến 3 % có đột biến chèn exon 20 ở gene EGFR. Đây là một nhóm đột biến gây ra sự phát triển tế bào nhanh chóng và giúp ung thư lây lan.

CƠ CHẾ TÁC DỤNG

Amivantamab là một kháng thể đặc hiệu kép liên kết với EGFR và MET. Trong các nghiên cứu in vitroin vivo, amivantamab cho thấy có thể làm gián đoạn truyền tín hiệu chức năng của EGFR và MET thông qua việc ngăn chặn liên kết phối tử, và trong các mô hình đột biến chèn exon 20, amivantamab phân giải EGFR và MET. Sự hiện diện của EGFR và MET trên bề mặt của các tế bào khối u, cũng là mục tiêu tiêu diệt của các tế bào miễn dịch, chẳng hạn như tế bào sát thủ tự nhiên (natural killer cells ) và đại thực bào, thông qua cơ chế ADCC và trogocytosis.

HIỆU QUẢ LÂM SÀNG

Hiệu quả của Rybrevant được đánh giá trong một nghiên cứu bao gồm 81 bệnh nhân NSCLC có đột biến chèn exon 20 ở gen EGFR, bệnh tiến triển sau hóa trị chứa platinum. Kết quả cho thấy tỷ lệ đáp ứng tổng thể là 40%. Thời gian đáp ứng trung vị là 11,1 tháng, với 63% bệnh nhân có thời gian đáp ứng từ 6 tháng trở lên.

ĐIỀU TRỊ VỚI RYBREVANT VÀ TÁC DỤNG PHỤ THƯỜNG GẶP

(Xem thêm tài liệu hướng dẫn sử dụng)

Rybrevant được cung cấp dưới dạng dịch tiêm truyền tĩnh mạch. Liều khuyến cáo dựa trên trọng lượng cơ thể.

  • Trọng lượng cơ thể < 80 kg: 1050 mg (3 vials)
  • Trọng lượng cơ thể ≥ 80 kg: 1400 mg (4 vials)

Dùng Rybrevant hàng tuần trong 4 tuần (ở tuần 1, liều được chia ra, truyền vào Ngày 1 và Ngày 2), sau đó dùng cứ 2 tuần một lần cho đến khi bệnh tiến triển hoặc có độc tính không thể điều trị tiếp được.

Tác dụng phụ phổ biến nhất của Rybrevant bao gồm phát ban, phản ứng liên quan đến truyền dịch, nhiễm trùng da xung quanh móng tay hoặc móng chân, đau cơ và khớp, khó thở, buồn nôn, mệt mỏi, sưng phù ở chân hoặc tay hoặc mặt, loét trong miệng, ho, táo bón, nôn mửa, và vài thay đổi xét nghiệm máu. Nên ngừng dùng Rybrevant nếu bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng của bệnh phổi mô kẽ. Bệnh nhân dùng Rybrevant nên hạn chế tiếp xúc với ánh nắng mặt trời trong và trong hai tháng sau khi điều trị. Rybrevant có thể gây ra các vấn đề về thị lực. Rybrevant cũng có thể gây hại cho thai nhi khi dùng cho phụ nữ có thai.

Nguồn tham khảo:

  1. https://www.fda.gov/news-events/press-announcements/fda-approves-first-targeted-therapy-subset-non-small-cell-lung-cancer
  2. https://www.accessdata.fda.gov/drugsatfda_docs/label/2021/761210s000lbl.pdf